|

Phỏng vấn Jim Sinclair về vàng và hệ thống tài chính thế giới


Tờ tin tức nghiên cứu Hera (HRN-The Hera Research Newsletter ) giới thiệu tới độc giả một bài phỏng vấn chuyên sâu với Jim Sinclair, Chủ tịch và Tổng giám đốc điều hành của tập đoàn Tanzanian Royalty Exploration và là người sáng lập ra công ty khai thác mỏ Jim Sinclair’s MineSet, một mặt trong vai trò chủ tịch, Jim Sinclair đưa ra những lời bình luận về Vàng một cách công khai, mặt kia đưa ra sự phục vụ miễn phí tới hội đồng đầu tư vàng.
Jim Sinclair là một chuyên gia hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kim loại quý và cũng là nhà giao dịch hàng hóa và ngoại tệ. Vào năm 1977, ông ta đã sáng lập ra nhóm hoạt động kinh doanh có tên Sinclair, nhóm kinh doanh này cung cấp trọn vẹn những dịch vụ môi giới trong phạm vi cổ phần, trái phiếu và những mô hình đầu tư khác. Chi nhánh của tập đoàn này có mặt ở New York, Kansas City, Toronto, Chicago, London và Geneva, và sau đó chúng đã được bán vào năm 1983.
Từ năm 1981 cho tới năm 1984, Ngài Sinclair đã làm việc dưới vai trò là nhà cố vấn đầu tư kim loại quý cho gia đình Hunt – tỷ phú dầu lửa Mỹ và là người đứng ra dàn xếp cho phi vụ vay tín dụng lên tới 1 tỷ USD cho anh em nhà Hunt – người mà đang lâm vào tình thế phá sản vì tham gia vào một sự đầu cơ kim loại bạc với Paul Volcker – vị chủ tịch của quỹ dự trữ liên bang vào thời điểm đó.
Ngoài ra, Sinclair cũng đã là người chủ động góp vốn và là thành viên trong hội đồng quản trị của hai hãng giao dịch chứng khoán New York. Chủ tịch của tập đoàn Sinclair Global Clearing Corporation – một hãng chuyên trong lĩnh vực thanh toán bù trừ hàng hóa và cũng là chủ tịch của Global Arbitrage – một công ty tham gia môi giới  trong lĩnh vực giao dịch kim loại và tiền tệ.
Vào tháng 4 năm 2002, những cổ đông của tập đoàn Tanzanian Royalty Exploration ( mà trước đây có tên  Tan Range Exploration) đã chấp thuận việc bán lại công ty này cho công ty tư nhân mà Sinclair quản lý, và việc toàn quyền khai thác khoáng sản ở Tanzania. Về sau này,  ngài Sinclair đã trở thành vị chủ tịch của Tarzanian Royalty và hiện tại ngài Sinclair đang  nỗ lực dẫn dắt công ty cho mục đích trở thành một công ty phát triển và đặc quyền trong lĩnh vực khai thác vàng.
Ông ta là tác giả của ba cuốn sách cũng như là người có nhiều bài viết được đăng tải trên các tạp chí có chuyên đề liên quan tới nhiều đề tài đa dạng về sự đầu tư, trong đó phải kể đến như kênh đầu tư trong lĩnh vực kim loại quý, chiến thuật giao dịch và những sự kiệm về lĩnh vực địa chính trị và mối liên quan của nó tới nền kinh tế thế giới và thị trường. Bên cạnh đó, Jim Sinclair cũng tham gia thường xuyên vào những cuộc bình luận và cũng là người có tên tuổi được biết đến trong lĩnh vực tài chính và thị trường được xuất hiện trên nhiều ấn phẩm tin tức đa dạng và  tiểu sử của ngài Sinclair cũng đã được xuất hiện trên tờ tạp chí New York Times.
Vào thời điểm tháng 1 năm 2003, ngài Sinclair đã bắt đầu khởi nghiệp cho công ty Jim Sinclair’s MineSet, mà vai trò hiện tại của ông ta là đưa ra những bình luận về vàng và lĩnh vực dịch vụ này đã có định hướng cung cấp miễn phí tới cộng đồng những nhà đầu tư vàng
Hera Research Newsletter (HRN): Cám ơn về sự tham gia của Ngài vào buổi nói chuyện với chúng tôi ngày hôm nay. Ngài là một trong số ít những nguời, người mà đã cố gắng đưa ra việc cảnh báo cho những nhà đầu tư về mô hình chứng khoán phái sinh theo phương thức giao dịch bên ngoài sở giao dịch chứng khoán ( OTC derivatives – Over-the-counter derivatives). Vậy thì tại sao thị trường OTC derivatives lại có vấn đề theo như ý kiến của ngài đã đưa ra ?
Jim Sinclair: Mô hình OTC derivatives chính là lý do mà chúng ta sẽ thảo luận chi tiết sự tiếp tục tồn tại của vấn đề này cho tới ngày hôm nay. Hình thức OTC derivatives chính là một  mô hình của sự đặt cược vào một cái gì đó, mà người đặt cược hy vọng sẽ có lợi nhuận trong tương lai.
Cho tới tận thời điểm năm 2009, hầu hết những người tham gia đánh cược đều có rất ít tài sản để thế chấp cho một khoản vay khổng lồ. Họ đã vận dụng hình thức đòn bẩy tài chính, hay còn được hiểu là hình thức đầu cơ vay nợ để có được một khối lượng tiền lớn nhằm mục đích tham gia cuộc chơi. Nhưng mà, kết quả của sự đặt cược này đã không hề diễn ra đúng như mong đợi, do vậy mà một khối lượng tiền vay nợ lớn phục vụ cho mục đích đầu cơ trên cũng nằm trong kết quả của một sự thua lỗ khác thường này. Ở đây chiếm một thành phần chính của việc gia hạn thanh toán nằm trong mô hình chứng khoán phái sinh „derivatives“ có liên quan tới thị trường bất động sản, cũng như những mô hình khác, chẳng hạn như những derivatives cho việc cấp tín dụng để mua ô tô „auto loans“. Vào năm 2008, đã xuất hiện một loạt hiện tượng „ Subprime- vỡ nợ đối với các loại tín dụng thứ cấp“ cho các derivatives nói trên.
HRN: Điều này có nghĩa mô hình OTC derivatives đã làm mất ổn định hệ thống tài chính trong năm 2008 có phải không ?
Jim Sinclair: Hoàn toàn đúng như vậy.
Ron Hera: Những chế định tài chính đã không hề sử dụng những mô hình nào để  thủ tiêu đi mối đe dọa này, bằng cách tạo ra những hàng rào ngăn cản sự rủi ro xâm nhập vào thị trường OTC derivatives có phải không ?
Jim Sinclair: Trước khi sự thất bại của Lehman Brother được diễn ra, thì những sự thua lỗ của OTC derivatives đã hầu như được tính ở mức con số 0. Người ta  có thể coi mô hình derivatives này giống như một sợi dây được nối thành vòng tròn với nhiều những nút thắt đa dạng, đang trình diễn nhiều những hoạt động giao dịch của tất cả các derivatives. Nếu như Lehman sụp đổ, thì đương nhiên nút thắt của sợi dây này cũng bị cắt đứt.
Vậy thì, nếu như Lehman không thể trả nợ cho những derivatives kia, thì đương nhiên những thành viên tham gia vào trò chơi này không thể tiếp tục tồn tại lâu hơn theo mô hình thua lỗ chỉ ở mức con số 0 như trước kia nữa.
Đó cũng là lý do tại sao mà những ngân hàng khác cũng đã bị sụp đổ theo, sau hiện tượng phá sản của Lehman Brothers, và đó cũng là lý do tại sao nhiều tổ chức tài chính  nhận được sự trợ giúp của chính phủ dưới gói hình thức „Làm giảm căng thẳng về lượng (QE) – Quantitative easing“.
HRN: OTC derivatives chính là lý do thực sự cho sự cứu trợ khẩn cấp các ngân hàng có phải không ?
Jim Sinclair: Đó là một thực tế, điều mà không có  lý do nào khác có thể được đưa ra gây tranh cãi ở đây.
HRN: Vấn đề này đã không hề được giải quyết một cách ổn thỏa bởi cuộc cải tổ có tên The Dodd- Frank-Wall-Street-Reform và Đạo luật bảo vệ người tiêu dùng có tên Consumer Protection Act có phải không ?
Jim Sinclair: Một chồng khối lượng lớn OTC derivatives hiện tại đạt mức hơn 1 triệu tỷ USD. Sau thời điểm năm 2008, Qũy tiền tệ quốc tế (IMF) đã thực hiện một phương pháp định giá mới cho chúng. Phương pháp định giá này có tên „ Value to Maturity – Giá trị cho đến hạn thanh toán“. „Value to maturity“ này thừa nhận, rằng tất cả những derivatives kia sẽ tiếp tục hoạt động, điều này chỉ đơn giản giống như một trò lố bịch. Một chồng lớn derivatives này đã không được thanh toán. Xét về mặt cơ bản, thậm chí khối lượng derivatives này còn tiếp tục tăng thêm, nhưng mà bằng phương pháp định giá mới „ Value to maturity“ đã làm giảm đi giá trị thông thường của hơn 1 triệu tỷ USD kia xuống dưới mức 700 nghìn tỷ USD. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một khối lượng lớn các derivatives vẫn chưa được chi trả, tình trạng của chúng cũng đã không hề được thay đổi gì so với thời điểm ban đầu.
Đang được ưa chuộng hiện nay chính là hình thức “Credit Default Swaps(CDS)-Hoán đổi rủi ro tín dụng”, hình thức này có liên quan tới khả năng thanh toán, hoặc thậm chí không có khả năng thanh toán của những quốc gia có chủ quyền. Những hình thức derivatives mới đã có một vài biên độ chênh lệch (margins)  đứng đằng sau chúng, nhưng mà chúng chỉ hoạt động trong trường hợp chúng không được yêu cầu đến. Nếu như một khoản nợ của một quốc gia nào đó,  xét trên thực tế không trả nợ đúng kỳ hạn, điều này sẽ xảy ra một cách nhanh chóng ngay sau đó  mà không hề có một sự giải quyết lớn nào phụ thuộc vào những thủ tục được tiến hành trước đó. Hầu hết mọi người muốn chờ đợi một sự giải cứu để thoát ra khỏi vấn đề khó khăn. Trong tình huống này, chúng ta cùng đưa ra một điều giả sử như sau: nếu như sự giải cứu này không đến, thì đương nhiên CDS chỉ đơn giản không thể hoạt động theo đúng chức năng của nó, và  tiếp tục một lần nữa lặp lại ngày tận thế của hệ thống ngân hàng.
HRN: Ngài đang nói tới vấn đề hệ thống tài chính ngày nay ít ổn định hơn so với năm 2008 có phải không ?
Jim Sinclair: Ngày nay có vẻ ổn định hơn, nhưng mà nó chỉ là cái vỏ bên ngoài. Sự hồi phục toàn bộ ở thị trường cổ phiếu đã được bắt đầu hầu như vào ngày, ngày mà Hội Đồng Tiêu Chuẩn Tài Chính Kế Toán (FASB) đã nới lỏng luật lệ cho phương pháp định giá theo thị trường ( Mark to market). Hội đồng FASB  đã cho phép những tổ chức tài chính được bổ sung thêm bất cứ giá trị theo như  mong muốn cho những tờ giấy không còn giá trị của chính họ. Nếu như họ sử dụng phương pháp đánh giá thực sự ( Markt to market)  cho giá trị của những tờ giấy này, thì đương nhiên có rất nhiều những ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng phá sản toàn bộ.
Ron Hera: Một biện pháp tạm thời của Hội Đồng FASB đã không thay đổi được việc dừng lại sự suy giảm của những chứng khoán bảo đảm cho bất động sản – mortgage-backed securities (MBS) có phải không ?
Jim Sinclair: Vấn đề không những chỉ nằm ở MBS, mà còn nhiều loại giấy tờ khác cũng trong tình trạng như vậy, chúng đang nằm trong bảng cân đối tài chính của nhiều ngân hàng. Những bảng kết toán này xuất hiện với tình trạng bên ngoài cỏ vẻ khỏe mạnh, nhưng thực chất bên trong không phải là như vậy. Mà xét về mặt thực tế, nhiều ngân hàng phải cần thiết tới nhiều quỹ hỗ trợ vốn.
HRN: Vậy thì hệ thống tài chính vẫn đang nằm trong tình trạng không có khả năng đề kháng có phải không ?
Jim Sinclair: Người ta chỉ tạo ra sự gián đoạn cho vấn đề này.
Mục đích của QE, hay nói một cách khác là hành động in tiền, hình thức này nhằm duy trì một vài cấp độ  toàn vẹn của hệ thống tài chính.
Điều này làm tôi nhớ tới hình ảnh bôi dầu vào trục ổ bánh xe, có nghĩa thị trường cổ phiếu là trục ổ bánh xe cần tới dầu bôi trơn ở đây chính là khả năng thanh toán bằng tiền mặt.  Nếu như người ta tạo ra nhiều tiền mặt, và toàn bộ số tiền này lại được đưa trực tiếp tới tay của những tổ chức tài chính ngân hàng và những công ty đầu tư quốc tế. Điều này cho thấy rằng, cổ phiếu từ thị trường hư vô đã được duy trì bởi QE.
HRN: Chính phủ có thể dùng những biện pháp gì để có thể ngăn chặn một cuộc khủng hoảng mới ?
Jim Sinclair: Người ta có thể cho rằng, những biện pháp của chính phủ đã được làm trong thời gian vừa qua, cũng sẽ tiếp tục được lặp lại trong thời gian tới. Xét về mặt thực tiễn, ở đây không còn công cụ  nào khác ngoài QE. Do vậy, ý tưởng cho rằng sẽ không hề có một sự tiếp  tục áp dụng biện pháp QE tung ra thị trường là lời nói vô lý.
HRN: Có thể Chính Phủ sẽ lại tiếp tục phải cứu trợ các ngân hàng có phải không ?
Jim Sinclair: Những ngân hàng trung ương sẽ mua lại  nợ chính phủ. Hành động này, người ta gọi là „ quantitative easing (QE) – làm giảm căng thẳng về lượng“
HRN: QE không hề làm suy yếu giá trị của đồng Đôla có phải không ?
Jim Sinclair: Đồng Đôla chỉ thực hiện chức năng tâm lý. Nó chỉ là một tờ giấy đi kèm với một sự hứa hẹn thanh toán, nhưng mà không có một điều gì chắc chắn trong việc nó có thể đảm bảo cho việc thanh toán. Tờ giấy này là một nơi cư trú hợp pháp cho sự nợ nần, nhưng mà không có một cái gì đảm bảo rằng nó có thể được chuyển đổi sang một cái gì được. Nhằm mục đích duy trì sự tin tưởng vào đồng tiền này , việc làm cần thiết ở đây chính là việc duy trì vị thế ảnh hưởng của nó.
Xét dưới ý nghĩa về mặt số học, nếu như một ai đó đi vào trong siêu thị với mục đích bán những quả táo cho một siêu thị nào đó, nếu như người này chỉ là một nhà bán hàng duy nhất, thì đương nhiên nhà bán hàng độc quyền này có thể nhận được một mức giá  hấp dẫn.
Nhưng nếu như có nhiều người bán táo, thì cũng có nghĩa là có một khối lượng lớn số táo được đưa vào thị trường, điều này kéo theo việc giá cả của mặt hàng táo cũng biến động theo.
QE tạo ra nhiều Đôla, biện pháp này chỉ đơn giản nhằm mục đích tăng nguồn cung.
HRN: Nếu như đồng Đôla đang mất đi giá trị của nó bởi biện pháp QE, thế còn đồng Euro thì sao ?
Jim Sinclair: Nếu như người ta nhìn vào diễn biến của  đồng Đôla, Euro hay Yen, hoặc thậm chí Đồng Franc của Thụy Sỹ, người ta sẽ nhận thấy rất rõ một cuộc chạy đua phá giá của những đồng tiền này. Ở nhiều quốc gia, mọi nơi  đang hàng ngày tạo ra rất nhiều tiền thông qua những loại giấy tờ giao dịch ở thị trường chứng khoán. Những loại giấy tờ này chỉ là một sự định giá mang tính tương đối, nhiều hơn so với một sự định giá được thiết lập dựa trên nền tảng của một sự tham chiếu khách quan. Những  gì đang xảy ra ở Liên Minh Châu Âu(EU), thì ngay lập tức cũng ảnh hưởng tới đồng Đôla.
HRN: Ngài muốn ám chỉ tới  cuộc khủng hoảng nợ có phải không ?
Jim Sinclair: Có quá nhiều sự chú ý vào những quốc gia trong khối EU. Không có một điều gì khác biệt giữa Liên Minh Kinh Tế các nước trong Châu Âu (EU)  và Liên Minh của các tiểu bang ở Mỹ. Những quốc gia ở Châu Âu đã bộc lộ rõ tình trạng không trả được nợ.Vậy thì những tiểu bang của Hoa Kỳ thì sao đây ?
New York, Illinois, California, v.v…, vậy thì còn bao nhiêu tiểu bang nữa đang trong tình trạng vỡ nợ ?
Những phương tiện thông tin công chúng ở Mỹ đã tập trung quá nhiều vào sự biến động của khối  EU. Nước Mỹ nên tự soi lại chính mình. Những tiểu bang liên minh kinh tế  Hoa kỳ hiện tại cũng không hề trong tình trạng sung sức.
HRN: Những phương tiện thông tin đại chúng đang phớt lờ đi sự khủng hoảng nợ   của nước Mỹ có phải không ?
Jim Sinclair: Những chiếc loa phóng thanh ngày nay chính là những bản tin tài chính trên truyền hình. Có bao nhiêu sự chú ý về tình trạng vỡ nợ của nước Mỹ được các kênh truyền hình tài chính đưa tin ?
Vấn đề đáng lưu ý ở đây, không phải là vấn đề vỡ nợ  của Bồ Đào Nha, Hy-Lạp, Tây Ban Nha và Ireland, mà vấn đề nằm ở chỗ,  các kênh truyền hình này đã dành tới hàng tiếng, hàng ngày, hàng tuần và cả hàng tháng cho việc liên tục đưa tin.
Khả năng thanh toán của New York, Illinois và California cũng đã được đề cập đến trước đây, nhưng  cho tới tận thời điểm này,  vấn đề này lại đã  được dịch chuyển đi một cách mau lẹ, mà thay thế  vào đó là việc phát đi những vấn đề của  EU.
HRN: Vậy thì, những vấn đề về thanh toán nợ của những tiểu bang Hoa Kỳ được coi là một vấn đề lớn tới mức như một con voi đang hiển hiện trong phòng,  mà không một ai muốn nói đến có phải không ?
Jim Sinclair: Làm như thế nào mà người ta lại đưa ra nhận định rằng, đồng Euro chính là một thảm họa, mà nhận định này chỉ được căn cứ vào điều kiện tài chính của riêng một quốc gia trong khối EU, trong khi đó  những tiểu bang liên minh kinh tế của Hoa Kỳ cũng đang nằm trong vấn đề tương tự như vậy và trong một vài trường hợp còn được xem là tồi tệ hơn so với các nước EU ?
Không có một sự khác biệt nào ở đây cả. Nếu như một ai đó muốn phân tích việc đồng Euro được xây dựng trên nền tảng của những thành viên yếu trong khối EU, vậy thì làm thế nào mà đồng USD lại có thể được coi là đồng tiền mạnh, mà trong khi đó những tiểu bang của nước Mỹ đang trong tình trạng yếu hoặc thậm chí còn yếu hơn?
HRN: Vậy thì điều này có nghĩa, đồng tiền Euro trong thời gian qua có thể tiếp tục tăng so với  đồng Đôla, bất chấp sự khủng hoảng nợ đang diễn ra tại Châu Âu có phải không ?
Jim Sinclair: Chắc chắn nó có thể tiếp tục tăng. Câu hỏi đặt ra ở đây, chính là việc đồng Đôla có thể đi xuống mức thấp hơn nữa  là bao nhiêu? 1 Euro đã đạt được mức qui đổi lên tới $1.50 hoặc có thể tiếp tục cao hơn nữa.
HRN: Nhưng mà đồng Đôla vẫn tiếp tục đóng vai trò là đồng tiền dự trữ thế giới. Vị thế này không đảm bảo cho giá trị của nó có phải không ?
Jim Sinclair: Chỉ diễn ra duy nhất ở sự vỡ nợ. Còn bình thường nó vẫn tiếp tục duy trì chức năng này, bởi vì những ngân hàng trung ương chính là chủ nhân  nắm giữ những đồng Đôla này. Trong trường hợp những ngân hàng trung ương này muốn đổi Đôla  sang  vàng hoặc những loại tiền tệ khác mà không hề có một sự trục trặc nào cả, thì đương nhiên họ vẫn muốn có chúng.
HRN: Vậy thì xem xét dưới góc độ thực tế, những ngân hàng trung ương không thể thoát khỏi sự phụ thuộc vào đồng Đôla có phải không ?
Jim Sinclair: Một thành viên duy nhất được nói đến ở đây, mà được xem là đang tìm cách thoát ra khỏi sự ràng buộc với đồng Đôla chính là Trung Quốc. Họ vẫn đang tiếp tục tham gia nhiều thương vụ kinh doanh trên toàn thế giới như kim loại quý, nguồn nguyên liệu, năng lượng và những hoạt động sản xuất khác. Nếu như người ta nhìn vào tất cả những hoạt động thương mại hiện nay của Trung Quốc trên toàn thế giới, điều này cho thấy rất rõ việc Trung Quốc đang dần dần thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào đồng Đôla.
HRN: Hiện tại Chính phủ Mỹ không tiếp tục duy trì một chính sách làm tăng sức mạnh cho đồng Đôla có phải không ?
Jim Sinclair: Chính sách làm tăng sức mạnh cho đồng Đôla chỉ được xem là một hình thái mang tính chừng mực, xét theo xu hướng dài hạn, thì chính sách này tiếp tục làm giá trị của đồng USD ở mức tiếp tục thấp hơn nữa.
HRN: Sự quản lý công cụ tỷ giá hối đoái  của ngân hàng trung ương không đủ sức ngăn cản được những sự gây trở ngại, điều mà được xem là phá vỡ hệ thống, chẳng hạn như sự can thiệp của Ngân hàng trung ương Nhật Bản vào đồng Yen của họ trong thời gian gần đây có phải không ?
Jim Sinclair: Về sự  can thiệp vào đồng Yen của Nhật Bản, ngân hàng trung ương của nước này đã hành động, nhưng mà câu hỏi được đặt ra ở đây, rằng sự can thiệp này có thể được kéo dài trong bao lâu ? Họ phải tạo nên nhiều tiền để can thiệp, hành động này khiến cho người ta liên tưởng tới QE.
HRN: Ngài muốn ám chỉ tới toàn bộ sự can thiệp gây ảnh hưởng vào vấn đề tiền tệ đơn giản chỉ là việc tạo ra một lượng tiền mới có phải không ?
Jim Sinclair: Bất cứ một điều gì xảy ra trên toàn thế giới, chẳng hạn như việc ngân hàng trung ương Nhật Bản chịu trách nhiệm cho thảm họa kinh hoàng ở Nhật Bản, điều xảy ra này được xem là nhân tố quyết định trực tiếp cho công cụ QE. Tiền đang được tạo ra ở khắp mọi nơi mà không hề có  bất cứ một nguyên tắc nào nhưng mà những vấn đề của những tổ chức tài chính vẫn tồn tại bởi vì họ đã tạo ra những bảng cân đối tài chính giả cùng với những giá trị không đúng cho thị trường OTC derivatives của chính họ.
HRN: Sự bãi bỏ tạm thời của Hội đồng FASB luật lệ phương thức định giá theo thị trường „mark to market“ đã không có đủ thời gian cho những ngân hàng điều chỉnh lại những bảng kết toán của họ có phải không ?
Jim Sinclair: Hiện tại có khoảng 5 triệu những ngôi nhà ở nước Mỹ cần được bán, trong trường hợp người ta không đưa trực tiếp toàn bộ số hàng lưu kho trong bóng tối này vào danh sách, mà đáng lẽ ra hành động kiểm kê hàng lưu kho thực sự nên làm.
Điều này đã chứng minh rất rõ rằng, ở  đây không hề có một sự điều chỉnh nào hướng vào thị trường bất động sản, do vậy cũng dẫn tới việc không có một sự chấn chỉnh nào vào trong thị trường OTC derivatives, mà các sản phẩm tài chính của thị trường này được thiết lập phần lớn trên nền tảng của những gói chứng khoán bất động sản.
Điều đó có nghĩa, không có một sự điều chỉnh nào xảy ra  với những loại chứng khoán bất động sản đang tồn kho, những loại giấy tờ này lại được các ngân hàng tạo ra cho nó một giá trị mới cao hơn so với việc mà họ có thể đem bán chúng ra ngoài thị trường, nếu như họ có cơ hội  có thể bán được tất cả các số giấy tờ này.
HRN: Cuối cùng, bảng cân đối tài chính của ngân hàng sẽ trở nên tốt đẹp hơn có phải không ?
Jim Sinclair: Miễn là sự tin tưởng được duy trì ở chỗ đó, điều mà thị trường cổ phiếu phụ thuộc vào nó – ở đó chúng ta lại được chứng kiến biện pháp QE hoạt động hữu hiệu.
HRN: Ngài đang nói tới việc sự đi lên ở thị trường chứng khoán hiện nay đang được điều khiển bởi QE có phải không ?
Jim Sinclair: Không có một năng lực nào có thể làm dừng QE mà không hề có một sự lật ngược những tấm thẻ bất động sản đang xuống giá kia được. Ở đây không còn có một sự lựa chọ nào khác. QE chính là công cụ còn lại duy nhất. Cục dự trữ liên bang Mỹ  không thể  ở một vị trí đại diện cho sự nghiêm khắc đối với vấn đề chính sách tiền tệ và tỷ lệ lãi suất, nếu như không có sự lật ngược toàn bộ những vấn đề đã được nói ở trên. Họ có thể liên tục nói về QE  và chỉ có thể nói bản chất thực của nó nhiều hơn ở phía sau hậu trường so với những gì được công khai trước công chúng.
HRN: Nếu như QE không được dừng lại một cách nhanh chóng, vậy thì điều gì sẽ xảy ra ?
Jim Sinclair: Kết thúc cuộc chơi  là một loại tiền dự trữ thực, loại tiền này được gắn với vàng. Sự nối kết này sẽ được lấy làm cơ sở cho thước đo tiêu chuẩn bình quân của những loại tiền tệ quan trọng, mà sự dịch chuyển của những loại loại tiền tệ này  đang đi dần xuống trong bảng chỉ số. Qũy tiền tệ quốc tế (IMF) đang dịch chuyển theo hướng này  đi kèm với quyền vay đặc biệt (SDRs- Special Drawing Rights). Đồng Đôla sẽ cũng chỉ  là một loại tiền tệ  như nhiều loại tiền khác đang tồn tại. Giá trị của đồng Đôla sẽ không đi đến con số không. Đồng tiền này có thể mất đi một số lượng lớn những khách hàng quan trọng, điều này cũng đã xảy ra và nó có thể tiếp tục lặp lại.
HRN: Làm như thế nào mà một loại tiền tệ thực sự được coi là hoạt động ?
Jim Sinclair: Đã có một vài phương pháp tính toán cho lượng cung tiền được sử dụng một cách rộng rãi, chẳng hạn như M 3 đã được sử dụng cho đồng Đôla vào thời điểm trước kia, nhưng mà dựa trên cấp độ quốc tế. Giá cả của vàng có mối quan hệ tới phương pháp tính toán này.
Những ngân hàng trung ương sẽ phải thẩm định giá trị vàng của họ theo như sự góp phần vào hoặc sự rút ra khỏi thị trường thanh khoản quốc tế, do vậy mà giá vàng sẽ  tăng lên hoặc giảm xuống được dựa trên chính những công cụ tài khóa của ngân hàng trung ương.
HRN: Điều đó sẽ không thể thực thi chế độ bản vị vàng có phải không?
Jim Sinclair: Theo như ý kiến của tôi, sẽ không bao giờ có sự quay trở lại chế độ bản vị vàng. Vào thời điểm kết thúc của tất cả các siêu lạm phát là việc xuất hiện  một loại tiền tệ hàng hóa. Điều này chính xác đã xảy ra ở nước Đức trước kia. Vàng có khả năng đem lại sự tin tưởng cho con người nếu như có một vài mối liên  hệ giữa tiền giấy và vàng. Tiền tệ thực sự sẽ phải có mối liên quan tới vàng, chứ không thể hô hoán biến cải thành vàng.
HRN: Vậy thì một thành phần có trong vàng chính là nơi lưu trữ sự tin tưởng có phải không ?
Jim Sinclair: Câu trả lời ở đây chính là  loại tiền tệ hàng hóa. Nhìn dưới góc độ lịch sử của tiền, điều này đã thường xuyên xảy ra trong một vài tình thế cụ thể. Đồng tiền Rentenmark đã được chấm dứt cùng với cuộc siêu lạm phát ở Đức vào năm 1923, nhìn dưới góc độ lý thuyết, đồng tiền này đã được đảm bảo thông qua tổng thể sự tồn tại hiện có của bất động sản vào thời điểm đó, nhưng mà nhà nước Đức đã không phải là chủ nhân của những bất động sản này . Điều mà thực sự được xem xét ở đây, chính là việc đồng tiền Rentenmark này đã không hề có một sự đảm bảo của loại nguyên liệu hàng hóa lớn nào cho giá trị của nó, nhưng mà việc đảm bảo thanh toán bằng bất động sản kia đã đủ sức đạt được niềm tin. Có thể nói, đó là một giai đoạn, mà ở thời điểm này, người ta đã tìm kiềm bất cứ một cái gì đó cũng được, miễn là tạo lập được sự tin tưởng vào tiền tệ.
HRN: Liệu rằng ngài có đoán trước, vấn đề gì mà đồng Đôla ở Mỹ gặp phải từ sự lạm phát cao này ?
Jim Sinclair: Điều này đã được xảy ra. Lạm phát được ví như một phụ nữ mang thai. Sự thụ tinh đã được xảy ra. Kết quả được xuất hiện cùng với một sự gián đoạn, nhưng mà nếu như người ta thực hiện những hành vi bất hợp pháp, thì đương nhiên câu hỏi cho sự lộ diện vấn đề chỉ là yếu tố về mặt thời gian.
Cục dự trữ liên bang Mỹ có thể dừng biện pháp QE ngay trong ngày mai được, nhưng việc dừng lại này cũng sẽ không thể cứu vãn được cho những gì đang xảy ra, bởi vì họ đã đưa chúng vào thực hiện rồi
HRN: Lạm phát sẽ không làm giảm đi giá trị thực của những khoản nợ và cũng không hề giúp cho việc điều chỉnh lại bảng cân đối tài chính của ngân hàng có phải không ?
Jim Sinclair: Lạm phát chính là một hình thức của nợ, hình thức nợ này nhận được một sự quan tâm hơn cả. Giá trị của đồng tiền sẽ được suy giảm một cách mạnh mẽ, nhằm mục đích làm giảm đi gánh nặng nợ nần. Nó cũng sẽ làm thay đổi diện mạo chính trị. Bất kỳ một ai đó luôn luôn tiếp nhận quyền lực vào thời điểm này, thì người đó cũng sẽ không còn quyền lực vào sự kết thúc của tiến trình này.
HRN: Hay nói một cách khác, lạm phát chính là một biểu hiện của sự mất ổn định về mặt chính trị có phải không ?
Jim Sinclair: Toàn bộ bức tranh lớn không thực sự được nhìn thấy. Hiện tại, chúng ta đã nhận được sự lạm phát, điều này được biểu hiện rất rõ trong áp lực về mặt chi phí.
Sự gia tăng lượng cung tiền đã gây áp lực lên vấn đề về mặt chi phí, đó là sự lạm phát mà hiện tại chúng ta đang chứng kiến. Hãy nhìn vào cái gì hiện tại đang được diễn ra ở khu vực Trung Đông. Chúng ta đang dịch chuyển từ ổn định sang sự thiếu ổn định.
HRN: Ngài muốn nói rằng, lạm phát trong vấn đề giá cả lương thực chính là một sự biểu hiện gián tiếp của xu hướng giá dầu đang tăng cao hiện nay có phải không ?
Jim Sinclair: Dầu tác động tới giá cả thực phẩm theo một chu trình như sau: dầu chính là nguồn nguyên liệu để làm phân bón cho tới những trang thiết bị phục vụ cho nông nghiệp phục vụ cho mục đích vận chuyển và cuối cùng được hạch toán vào giá cả thực phẩm. Thậm chí giá cả của hàng hóa sẽ còn tiếp tục tăng cao hơn so với việc chúng ta đang chứng kiến trong năm nay. Sự hiện diện của giá dầu đã cho thấy  rõ xu hướng tiếp tục đi lên của nó. Trước đây,  “Peak Oil“ đã được xem là một khái niệm của tương lai. Bây giờ, khái niệm này lại được xem là hình ảnh của ngày hôm nay
Một chiếc ô tô mà cần tới 10 lít xăng cho 100 cây số, thì sự tiêu dùng xăng của chiếc ô tô này sẽ thực sự trở nên đắt đỏ đối với nguời dân bình thường.
HRN: Giá dầu cao sẽ tác động ở mức độ nào tới giá cả của những loại hàng hóa khác  ?
Jim Sinclair: Ở đây sẽ có một sự trục trặc trong khâu phân phối sản phẩm. Có thể xuất hiện một sự thiếu hụt hàng hóa, không phải vì lý do không có sẵn hàng hóa, mà lý do ở đây chính là sự gián đoạn trong khâu vận chuyển. Điều này không nói lên việc, rằng sẽ không có ngũ cốc hoặc lúa mì, nhưng mà nhiên liệu được xem là nhân tố cần thiết cho những thiết bị chuyên chở. Nguồn nhiên liệu này sẽ trở nên đắt đỏ và những người làm việc trong khâu chuyên chở sẽ đòi hỏi việc trả lương cao hơn để họ có thể sống được với mức lương này. Đây cũng chính là nơi, nơi mà cuộc chơi của sự siêu lạm phát xuất hiện.
HRN: Và số tiền nhằm mục đích duy trì sự phân phối hàng hóa chỉ đơn giản được tạo ra từ không trung có phải không ?
Jim Sinclair: Chỉ có ở những quốc gia, nếu như họ đã làm điều này, cũng có nghĩa quốc gia này tự mình biến thành chế độ cộng hòa „ banana republic“. Con người có thể  tồn tại được trong chế độ này, ở đó sẽ có một vài người giàu có, đồng thời cũng có một vài người cực kỳ giàu có, nhưng mà lại có một số lượng khổng lồ những người sống trong cảnh đói nghèo. Người ta có thể nhìn thấy rất rõ điều này dọc theo đường biên giới Nogales ở nước Mê-hi-cô, nơi mà nhiều người hiện tại vẫn đang tiếp tục sống tronh cảnh tột cùng của sự nghèo.
HRN: Nước Mỹ đang trở thành giống như nước Mê-hi-cô có phải không ?
Jim Sinclair: Tiêu chuẩn cuộc sống đang đi xuống một cách mạnh mẽ. Nhiều người cần phải nhận ra rằng, sự thiệt hại này đã được diễn ra. Đó không còn là một câu hỏi cho việc, liệu rằng Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ có thể bị đẩy vào tình trạng nguy khốn hay không. Mà nói đúng hơn chúng ta đang ở vào tình thế gay go. Hiện tại, chúng ta đang ngồi  xem cái hậu quả chơi lại chúng ta.
HRN: Người ta có thể làm gì để có thể bảo vệ tài sản của mình trước vấn đề lạm phát này ?
Jim Sinclair: Người ta cần phải cố gắng tìm cách duy trì sức mua của mình. Mỗi một người có thể tự trở thành ngân hàng trung ương cho chính mình và tự đưa ra những quyết định với khả năng tốt nhất mà họ có thể, dựa trên việc tập trung vào những nguồn đầu tư tài sản  mà họ có được trong thời điểm hỗn loạn, bằng việc tiếp tục nắm giữ chúng và sẽ tiếp tục nắm giữ chúng với mục đích mang lại lợi nhuận trong tương lai.
Ron Hera: Ngài đang ám chỉ tới việc mua những loại kim loại quý hoặc những nguồn nguyên liệu đầu vào khác có phải không ?
Jim Sinclair: Tôi đã nói chuyện với những người, mà hơn 10 năm về trước, cũng đã đặt triển vọng vào điều này. Họ đã thực hiện rất tốt những điều mà tôi nói. Thậm chí, vào chính thời điểm này, nó vẫn đang tiếp tục bảo vệ cho tài sản của rất nhiều người.
HRN: Thế còn vàng thì sao ? Ngài có cho rằng vàng giống như tiền, một loại tiền tệ không thể bị giảm đi về mặt giá trị có phải không ?
Jim Sinclair: Tiền thật là gì ? Vàng chính là tiền, nó không hề có một trách nhiệm thanh toán nợ được đi kèm. Nó là một hình thức đo đạc về mặt giá trị và bảo lưu tài sản, nó được chấp thuận thanh toán trên toàn cầu.
HRN: Vậy thì, vàng chính là một hình thức lựa chọn nhằm thay thế đồng Đôla hoặc Euro có phải không ?
Jim Sinclair: Vàng vật chất chính là câu trả lời. Một cá nhân nào đó, người mà nắm giữ vàng, đương nhiên sẽ có nhiều thời gian và khả năng để thực hiện những chức năng của vàng.
HRN: Ngài nghĩ rằng giá cả của vàng sẽ có thể đạt tới mức cao hơn là bao nhiêu ?
Jim Sinclair: Tỷ giá hối đoái của một loại tiền tệ sẽ như thế nào nếu như nó không hề có một trách nhiệm thanh toán nợ nào đi kèm ?
Vàng sẽ còn tiếp tục tăng cao hơn nữa. Chúng ta có thể tiếp tục được chứng kiến những cơn  sốc của giá vàng, có thể ở mức giá mục tiêu của Alf Fields là $10,000 /1ounce hoặc ở mức giá mục tiêu của Martin Armstrong là $12,000 /1ounce. Tôi tin rằng, mức giá mục tiêu mà tôi đã đưa ra vào thời điểm năm 2001  là $1.650 USD/1Ounce  sẽ nhanh chóng có vẻ ở mức quá thấp, điều mà được xem giống như một chuyện ngớ ngẩn.
Ron Hera: Xin cám ơn sự dành thời gian của quý ngài cho cuộc phỏng vấn này.
Jim Sinclair: Đây là một điều vinh dự cho tôi.
Phần kết
Jim Sinclair còn được gắn với một tên hiệu ” Mr Gold ” về sự đưa ra dự báo đúng thời điểm một cách lạ thường cho thị trường vàng vào những thập niên 70, kể từ thời điểm đó vào năm 1980 cho tới ngày hôm nay, tên tuổi của ông ta đã được biết đến ở vị trí hàng đầu của  thị trường giao dịch.
Ngài Sinclair là một nhà thương gia thần kỳ trong lĩnh vực kim loại quý, hàng hóa và tiền tệ. Ông ta đã đón nhận sự ảnh hưởng từ người bố của mình, ngài Bert Seligman, người mà đã từng là đối tác kinh doanh của Jesse Livermore, “The Great Bear of Wall Street”, nổi tiếng một thời trong việc bán hết được số cổ phiếu chỉ trong một thời gian ngắn vào thời điểm sụp đổ thị trường cổ phiếu vào năm 1907 và 1929.
Một phần nằm trong chiến lược của ngài Sinclair hướng tới mục đích bảo vệ cho một  lợi ích cụ thể trước sự mất giá của tiền tệ, dưới vai trò là Chủ tịch hội đồng quản trị, CEO và Tổng giám đốc điều hành, ngài Sinclair đã thu mua một số lượng lớn những mỏ vàng, mà không nhất thiết phải làm việc với một cường độ cao trong khâu sản xuất, bởi vì ông ta tin rằng giá vàng sẽ còn tiếp tục tăng cao nhiều hơn nữa.
Vào năm 2001, Jim Sinclair có đưa ra một nhận định tiên đoán trước cho mức giá mục tiêu của vàng vào năm 2011, sẽ đạt mức $1.650/1Ounce. Sự tiên lượng trước này đã tạo nên tên tuổi của ông ta trong lĩnh vực kim loại quý. Giá vàng hiện nay so với thời điểm 10 năm về trước đã tăng lên mức 511% (mức giá bình quân của vàng vào thời điểm tháng 1/2001 ở mức $265,49, 10 năm sau, tức là năm 2011 cũng vào thời điểm tháng 1, giá bình quân của vàng dã đạt đến $1.365,40 (theo London PM-Fixing) ). Điều này đã cho thấy một sự đi lên lạ thường của giá vàng. Sự dự báo trước giá vàng  mục tiêu của ngài Sinclair đã gây lên một sự ngạc nhiên lớn nhất trong lịch sử giao dịch kim loại quý này. Điều này cũng nói lên rằng, những nhà đầu tư trong lĩnh vực kim loại quý mà không biết đến  Jim Sinclair dưới  vai trò là một nhà bình luận trong lĩnh vực kim loại quý, hàng hóa và tiền tệ, thì nhà đầu tư này được xem như “tự chịu trách nhiệm với những mối đe dọa”.
Hoàng Thị Mai Phương BC,
Theo Thị Trường Tài Chính Online

Tin được đăng bởi: Le Nhi on 5/10/2011 04:36:00 PM. Tin tức thuộc chuyên mục: . BantinForex.net là kênh thông tin, tin tức, tư vấn, cung cấp kiến thức về thị trường Forex - Vàng. BantinForex.net là đối tác của sàn giao dịch Forex.com – Gain Capital Group làm việc tại Việt Nam. Chúng tôi có nhiệm vụ tư vấn và hỗ trợ khách hàng đăng ký tài khoản Forex.com - Gain Capital Group và cung cấp chiến lược giao dịch,công cụ đầu tư hiệu quả.
Liên hệ

Send Email

84947409 918

Hỗ trợ tài khoản

Hỗ trợ môi giới IB

Chiến thuật giao dịch

Kiến thức cơ bản

Mô hình Nến Nhật

Lên đầu trang