|

Không huy động và cho vay bằng vàng : Đảm bảo vị thế đồng Việt Nam

Kề từ 1/5/2011, theo Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29/4/2011 của NHNN các ngân hàng thương mại không được thực hiện việc huy động và cho vay bằng vàng. Một số ý kiến vẫn đang cân đo thiệt - hơn của việc thực hiện thông tư này.

Tuy nhiên nếu nhìn tổng thể có thể thấy, bất kỳ chính sách công nào cũng cần phải hi sinh những lợi ích cục bộ để đem lại lợi ích tổng thể cho xã hội và nhân dân (lợi ích dân tộc) và trong trường hợp này là vì đồng VN (VND) mạnh.

Không ai có thể phủ nhận lợi ích nào đó của việc NHTM huy động và cho vay bằng vàng. Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm là đâu là lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội rộng lớn thì không dễ suy luận đơn giản mà cần phân tích đánh giá theo phương pháp phúc lợi xã hội.

Hi sinh lợi ích cục bộ

Cách đây rất lâu, từ lập luận rằng vàng là tiền vốn của xã hội và cho phép tồn tại của vàng sẽ  trợ giúp chống lạm phát nên Nhà nước cho phép các NHTM được huy động và cho vay vốn bằng vàng từ những năm 90 (khi giá vàng ở VN thấp và vai trò tiền tệ của vàng gần như rất kém). Năm 2000, NHNN đã ban hành Quyết định số 432/2000/QĐ-NHNN1 ngày 3/10/2000 về nghiệp vụ huy động và sử dụng vốn bằng vàng, bằng VND đảm bảo giá trị theo giá vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong điều kiện  giá vàng tương đối ổn định hoặc giảm như năm 2005, việc kinh doanh vàng đã đem đến cho các ngân hàng VN nhiều lợi nhuận. Một số ngân hàng đã huy động vàng lãi suất thấp, bán ra lấy VND để cho vay VND với lãi suất cao, còn phần chênh lệch thì bảo hiểm rủi ro bằng cách đi mua hợp đồng kỳ hạn (hay các công cụ phái sinh khác). Do đó huy động và cho vay bằng vàng  tại VN là hoạt động khá phổ biến với một số ngân hàng và thực tế họ đã thu lợi nhuận cũng khá cao. Cũng phải kể đến, một số ngân hàng thua lỗ nếu không có các giải pháp phòng chống rủi ro như nêu trên. Cho dù vậy, các ngân hàng Việt nếu không huy động và cho vay vàng nữa cũng đồng nghĩa với việc phải hi sinh lợi ích cục bộ theo nghĩa đó.

Một số có thể hoài cổ về sàn vàng và cho rằng ngân hàng mình giảm lợi nhuận vài trăm tỉ đồng năm nay. Tuy nhiên các nhà kinh tế cho rằng hình thức sàn vàng (kinh doanh vàng trên tài khoản theo kiểu nhà đầu tư ký quỹ 1 được kinh doanh 100 lần) cho dù là một hình thưc rất có lợi cho “nhà cái” là ngân hàng, nhưng theo đó lại “gieo trồng” sự rủi, thất thoát rất lớn cho cộng đồng xã hội tương tự như hình thức “cờ bạc” trong nền kinh tế.

Hơn thế nữa, hình thức sàn vàng như ở VN thời gian qua đã làm cho dòng vốn nhàn rồi không chảy vào khu vực sản xuất vật chất mà lại chảy vào khu vực đầu cơ rất cao... Rõ ràng, với cách nhìn nhận toàn cục, tổng thể thì nguy cơ sàn vàng gây bất ổn tài chính và các hệ lụy xã hội rất lớn... Việc cắt đi sàn vàng vừa qua, có thể làm thiệt hại cho một ngân hàng vài trăm tỉ đồng... Nhưng đổi lại là sự ổn định của cả hệ thống tài chính, ngăn chặn các hệ lụy xã hội không đo được đơn giản chỉ bằng tiền...  Và việc điều tiết đó, rõ ràng cần bàn tay hữu hình là Nhà nước.

Cách đây gần 20 năm về trước, có bài báo rằng “VN đã nghèo lại lãng phí - nhập khẩu vàng quá  nhiều”, cho thấy, hàng năm VN nhập khẩu vàng vào hàng vài chục tấn và chỉ phục vụ cho một suy luận đơn giản là can thiệp để bình ổn giá trước mắt mà chưa có một chiến lược dài hạn, tổng thể vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong thực tế ấy, quá trình nhập khẩu vàng đã đem đến sự giàu có cho một khu vực nào đó... Nhưng một lượng ngoại tệ đã được hi sinh để nhập khẩu vàng mà không nhập máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất. Ngoài ra, lượng vàng tiêu chuẩn quốc tế nhập về và chuyển thành vàng VN với hàng ngàn chủng loại và vàng nhẫn (nói chung là gần như “vàng trang sức”, nếu so với vàng tiêu chuẩn quốc tế, được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới... Do đo, bây giờ ngân hàng muốn chuyển thành nguồn vốn tài chính phục vụ cho nhu cầu vốn của nền kinh tế người ta mới nhận ra vấn đề là phí chuyển đổi từ “vàng trang sức” thành vàng tiêu chuẩn quốc tế. Và nếu nhìn một vòng tuần hoàn của vàng dưới đây, chúng ta có thể thấy sự tốn kém:

DN VN nhập khẩu vàng tiêu chuẩn quốc tế (ví dụ vàng 3 chìa khóa, 4 số 9  như VN thường nhập khẩu) => Chuyển thành vàng trang sức (vàng VN) bán cho dân chúng => Các Cty/ngân hàng thu mua lại vàng trang sức trong nước để xuất khẩu sang Thụy Sỹ => Các Cty Thụy Sỹ lại tinh luyện lại vàng trang sức chuyển thành vàng tiêu chuẩn quốc tế (vàng 3 chìa khóa, 4 số 9) => DN VN nhập khẩu vàng tiêu chuẩn quốc tế => Chuyển thành “vàng trang sức” bán cho dân... (quy trình cứ như thế)...

Kết quả là nhà nhập khẩu (VN) và xuất khẩu (Thụy Sỹ) vàng giàu lên, dân chúng VN nghèo đi vì trả chi phí chuyển đổi vàng quốc tế thành vàng trang sức và ngược lại (do toàn bộ các chi phí này người tiêu dùng phải trả). Ngoại tệ bị lãng phí quá mức vào vàng mà không đến được doanh nghiệp cần nhập khẩu máy móc thiết bị cho nền kinh tế (cho nhu cầu đầu tư chiều sâu)... và VND bị suy yếu do có sự lấn át của việc lưu hành vàng tràn lan và luôn sẵn sàng theo kiểu mội lúc, mọi nơi.

Vì đồng tiền pháp định

Dễ nhận thấy rằng, nếu các cơ quan lập chính sách thừa nhận và luôn “hỗ trợ” vai trò quan trọng của vàng trong thanh toán hơn tiền VN (VND) thì vàng sẽ tồn tại trong mọi kênh lưu thông tài chính tương tự và sẽ tốt hơn VND như thanh toán, trao đổi và vay mượn bằng vàng và kể cả việc ngân hàng huy động và cho vay bằng vàng. Khi đồng “tiền hàng hóa” (tiền bằng vàng) phát huy cao độ vai trò tiền tệ của nó thì xã hội nhiều khi chẳng cần đến đồng tiền của Nhà nước phát hành nữa.

Cho dù chưa có nghiên cứu nào về vai trò tiền tệ của vàng ở VN, tuy nhiên dễ nhận thấy VND là đồng tiền pháp định (không có giá trị nội tại như vàng) mà cũng tồn tại song song với tiền vàng thì thường bị mất đi giá trị rất nhanh theo kỳ vọng nếu có bất kỳ một dấu hiệu lạm phát nào trong nền kinh tế VN. Điều đó dễ thấy khi có các tin đồn về phá giá VND, đổi tiền, hoặc in thêm đồng tiền có mệnh giá cao hơn (chỉ là tin đồn), hay có lạm phát tháng sau cao hơn tháng trước... thì dân chúng đổ xô đi mua vàng, hoặc lựa chọn hình thức thanh toán hay định giá tài sản bàng vàng (như đợt đầu tháng 10/2009 và tháng 10/2010 là  ví dụ rất điển hình).

Dễ nhận thấy các lợi ích của việc hạn chế huy động và cho vay vàng đối với ngân hàng cùng với việc chống USD hóa nền kinh tế chính là giải pháp bảo vệ và nâng cao vai trò của VND - đồng tiền pháp định, khi đó trên lãnh thổ VN sẽ chỉ tiêu tiền VN (VND). Khi đó sẽ dẫn đến các lợi ích khác là hạn chế việc tiêu tốn ngoại tệ hàng chục tỉ USD mỗi năm cho nhập  khẩu vàng mà qua đó còn có thể tập trung được nguồn vàng về tay nhà nước (do VND ổn định, dân bán vàng cho ngân hàng và nhà nước). Với số vàng ước tính hàng trăm tấn vàng trong dân thì khả năng huy động được hàng chục tỉ USD (quy từ vàng) là điều hoàn toàn có thể...

Tuy nhiên, mặt khác cũng dễ nhận thấy, lợi ích cục bộ vẫn khá cao và do đó việc hi sinh lợi ích cục bộ thường là rất khó khăn và trong tương lại rất có thể sẽ có nhiều lý lẽ để bảo vệ các lợi ích cục bộ nào đó. Trong thực tế cho thấy, có các chính sách khá tốt và cho dù có đem lại lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội sâu xa nhưng nếu nó không được nhân dân hiểu kỹ (hoặc chưa kịp thấm vào nhân dân), đôi  khi cũng bị “lung lay” hoặc có khi tạm thời bị “đánh bại”.
Do đó, việc triệt để thực hiện Thông tư 11 nêu trên là rất cần thiết và cần có thêm những chủ thuyết để củng cố cho nó tồn tại lâu dài, tạo được đồng thuận của cộng đồng xã hội. Những chủ thuyết cho nó cần được đi đôi với việc xây dựng vị thể VND và các giải pháp chính sách và cơ sở khoa học cho một VND mạnh.

Tin được đăng bởi: Le Nhi on 5/12/2011 10:50:00 AM. Tin tức thuộc chuyên mục: . BantinForex.net là kênh thông tin, tin tức, tư vấn, cung cấp kiến thức về thị trường Forex - Vàng. BantinForex.net là đối tác của sàn giao dịch Forex.com – Gain Capital Group làm việc tại Việt Nam. Chúng tôi có nhiệm vụ tư vấn và hỗ trợ khách hàng đăng ký tài khoản Forex.com - Gain Capital Group và cung cấp chiến lược giao dịch,công cụ đầu tư hiệu quả.
Liên hệ

Send Email

84947409 918

Hỗ trợ tài khoản

Hỗ trợ môi giới IB

Chiến thuật giao dịch

Kiến thức cơ bản

Mô hình Nến Nhật

Lên đầu trang