|

Trung Quốc hướng tới sứ mệnh lãnh đạo kinh tế toàn cầu

Cải cách quan trọng nhất mà Trung Quốc cần phải tiến hành là thay đổi căn bản mối quan hệ giữa Đảng - Chính phủ - khu vực công. Điều này có lẽ khó trở thành hiện thực trong tương lai gần.
Tác giả Razen Sally là Giám đốc Trung tâm Châu Âu về Kinh tế chính trị toàn cầu, và là Giáo sư tại Trường Kinh tế London (LSE).
Gần một thập niên đã trôi qua kể từ khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Kể từ thời điểm đó, Trung Quốc đã hấp thụ nhiều chính sách, quy tắc và thể chế cũ kỹ, và phần lớn sự hấp thụ đó có nguồn gốc từ chính sách của Mỹ trong nhiều thập niên trước.
Trung Quốc đã hành xử như thể là một nền kinh tế có quy mô vừa và nhỏ, vốn chỉ có thể đáp ứng một cách bị động với các quy tắc thương mại quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc đã trở thành một trong ba nền kinh tế lớn nhất thế giới, bên cạnh Mỹ và Liên minh châu Âu (EU).
Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai và nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới. Quốc gia này cũng là nhân tố đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong thời kỳ hậu khủng hoảng.
Bên cạnh việc gia tăng không ngừng quy mô của nền kinh tế, Trung Quốc còn muốn ảnh hưởng tới giá cả quốc tế và định hình các quy tắc toàn cầu. Nhưng để thực hiện được điều này, Trung Quốc cần có những thay đổi căn bản trong cách suy nghĩ của mình về chính sách kinh tế. Tuy nhiên, cho tới nay Bắc Kinh vẫn đang không muốn thay đổi.
Điều này đã tạo ra sự thiếu chắc chắn và không ổn định cho Trung Quốc và phần còn lại của thế giới, và khiến các nhà lãnh đạo toàn cầu tỏ ra e ngại khi kỳ vọng rằng Trung Quốc sẽ đóng vai trò tích cực đối với các vấn đề kinh tế thế giới.
Cách xử lý trong thương mại toàn cầu đã thể hiện một cách sâu sắc nhất sự định hướng chính sách của Trung Quốc, và cũng là thế lưỡng nan về chính sách của quốc gia này. Việc trở thành thành viên của WTO đã là một thành công vang dội của Trung Quốc.
Sự chấp nhận một loạt các quy tắc của WTO để có thể trở thành thành viên của tổ chức này, cùng với quá trình giải quyết những bất đồng của Trung Quốc, đã làm giảm nhẹ những căng thẳng đa chiều, và làm dịu đi quá trình hội nhập nhanh chóng của Trung Quốc vào nền kinh tế toàn cầu. Bắc Kinh cũng đã tham gia đàm phán các hiệp định tự do thương mại song phương và khu vực, như với ASEAN.
Nhưng có thể dễ dàng nhận thấy rằng Trung Quốc đã đóng vai trò thụ động và bên lề trong các Vòng đàm phán Doha để đẩy nhanh tiến trình tự do hóa thương mại toàn cầu. Vị trí tất định của Trung Quốc đã khiến quốc gia này luôn ở trong trạng thái ứng phó thụ động, và để các siêu cường khác thiết lập luật chơi.
Và các hiệp định tự do hóa thương mại song phương của Trung Quốc tỏ ra tương đối yếu thế. Trong khi đó, ví dụ như các hiệp định thương mại tự do của Hàn Quốc với Mỹ và EU đã thể hiện quá trình tự do hóa thương mại sâu sắc giữa Hàn Quốc với các đối tác khác. Ngược lại, những đàm phán của Bắc Kinh đối với ASEAN chỉ là vấn đề giảm thuế, mà chưa động chạm đến các vấn đề căn bản hơn như dỡ bỏ các hàng rào đối với hàng hóa và dịch vụ, cũng như đầu tư và chi tiêu công.
Các hiệp định thương mại tự do khác của Trung Quốc, ví dụ như với Pakistan, thập chí còn không giúp xóa bỏ được những hàng rào thuế quan quan trọng nhất.

Trên thực tế, quá trình hội nhập mang tính lịch sử của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới đã bị sa lầy kể từ năm 2006. Trung Quốc đã không đạt được các thỏa thuận tự do hóa đáng kể nào, ngoài những cam kết với WTO. Quá trình cầm quyền của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo còn tỏ ra "cứng rắn" hơn nhiều so với hai người tiền nhiệm là Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ.
Các lợi ích từ việc trì hoãn quá trình tự do hóa - từ các Bộ, các cơ quan hành chính, và các doanh nghiệp nhà nước mới hồi sinh của Trung Quốc - đang ngày một gia tăng. Chính vì các "quyền lực không chính thức" này, nên Trung Quốc không sẵn sàng mở cửa thị trường nội địa, và rất khó khăn để đạt được những thỏa thuận đầy tính nhượng bộ với các đối tác của mình.
Quá trình tự do hóa đầy chông gai của Trung Quốc còn bị chi phối bởi sự can thiệp của chính sách công nghiệp từ trung ương, nhằm bảo vệ lợi ích của khoảng 50 doanh nghiệp quốc doanh, phần lớn thuộc các ngành sản xuất "chiến lược" và các ngành dựa trên khai thác tài nguyên như dầu mỏ và khai khoáng, đồng thời chịu sự chi phối của các ngân hàng quốc doanh vốn đang kiểm soát hệ thống tài chính của Trung Quốc.
Những đóng góp của Trung Quốc trong nỗ lực ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vừa qua, bằng thặng dư tài chính và tiền tệ khổng lồ, đã biện minh cho sự ưu đãi của khu vực công và bảo hộ khu vực tư nhân. Thỉnh thoảng, Bắc Kinh lại thực hiện cơ chế "ra lệnh và kiểm soát", ví dụ như kiểm soát giá cả để chống lạm phát, khiến cho công cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường ngày càng khó khăn hơn.
Chính sách thương mại chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa bảo hộ, cùng với chính sách công nghiệp chịu ảnh hưởng của kinh tế chỉ huy, cả hai đã gặp nhau ở một số điểm. Sự hạn chế nhập khập, đặc biệt đối với các kim loại đất hiếm, đã gia tăng. Các ưu đãi về thuế, trợ cấp và kiểm soát giá, cùng với những "can thiệp" hành chính đối với các quyết định đầu tư, đã ưu tiên hàng hóa nội địa và tạo ra bất lợi đối với hàng hóa nhập khẩu tại Trung Quốc.
Các tiêu chuẩn "riêng biệt" của Trung Quốc, ví dụ như đối với điện thoại di động thế hệ thứ ba, đã làm gia tăng chi phí đối với các công ty nước ngoài trong nỗ lực cạnh tranh đối với các công ty của Trung Quốc. Các hàng rào đối với ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính và dịch vụ viễn thông, đã được dỡ bỏ một cách rất chậm chạp, thậm chí hầu như chưa được dỡ bỏ.
Những giới hạn đối với đầu tư nước ngoài đang được gia tăng trong các lĩnh vực mà các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc đang hoạt động, như trong ngành sắt thép, hóa dầu, than đá, năng lượng sinh học, thiết kế Website, quảng cáo trên các thiết bị nghe nhìn, và các dịch vụ Internet. Với sự ưu tiên các doanh nghiệp trong nước, Trung Quốc đã thể hiện rõ sự phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp nước ngoài trong các hợp đồng mua sắm của của chính phủ.
Những yêu cầu trong việc góp vốn liên doanh và chuyển giao công nghệ đối với các công ty nước ngoài đã tạo ra lợi thế cho các doanh nghiệp trong nước khi đầu tư vào các dự án đường sắt cao tốc, ô-tô điện, và các dự án năng lượng có thể tái tạo.
Cuối cùng, "chủ nghĩa quốc gia trong lĩnh vực đầu tư" đã phát triển thành chính sách "gạt bỏ doanh nghiệp nước ngoài": Các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc trong lĩnh vực khai thác tài nguyên đã mua lại các tài sản của nước ngoài với chi phí vốn rẻ được các ngân hàng nhà nước cung cấp.
Vấn đề ở đây là tổ hợp chính sách này không phù hợp với sứ mệnh của Trung Quốc là lãnh đạo nền kinh tế toàn cầu trong những thập niên tới. Bắc Kinh không thể kỳ vọng rằng các đối tác thương mại của mình có thể chấp nhận một cách vô điều kiện sự tràn ngập của hàng xuất khẩu của Trung Quốc, mà không mở cửa thị trường nội địa của mình cho hàng hóa của các đối tác đó.
Trên thực tế, những lợi ích cục bộ của Trung Quốc đã ngăn cản sự cải cách chính sách công nghiệp và tạo đà cho sự tràn ngập của chủ nghĩa bảo hộ tại quốc gia này. Trung Quốc cần đẩy mạnh cải cách theo những gì mà chính phủ nước này đã cam kết với WTO. Trung Quốc cũng nên giảm việc áp đặt thuế nhập khẩu, đặc biệt là đối với hàng công nghiệp. Quốc gia này cũng nên giảm bớt sự kiểm soát xuất khẩu đối với nguyên liệu thô và hàng nông sản.
Thách thức căn bản hơn của Trung Quốc là dỡ bỏ những hàng rào quy định trong nội địa đối với các hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và mua sắm công. Sự cam kết dỡ bỏ này là chỉ số đo lường chất lượng của các cuộc cải cách nội địa nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và "tái cân bằng" giữa đầu tư và tiêu dùng trong nền kinh tế, và giảm dần sự kiểm soát của khu vực công.
Phần lớn những mong muốn này đều không nằm trong chương trình nghị sự của Bắc Kinh. Các nhà lãnh đạo Trung quốc không sẵn sàng để thay đổi chính sách công nghiệp và đẩy mạnh cải cách theo những gì đã cam kết với WTO.
Sự cải cách này không chỉ đồng nghĩa với việc tự do hóa các thị trường sản phẩm trong nội địa, mà còn đồng nghĩa với việc giảm dần sự kiểm soát đối với các thị trường đầu vào phục vụ sản xuất như đất đai, vốn tài chính và các đầu vào năng lượng như dầu mỏ, nước và điện. Những yếu tố này là cốt lõi của sự điều hành kinh tế và chính trị nội bộ của Trung Quốc.
Những cải cách của Trung Quốc có thể không khó khăn và thách thức như người ta nghĩ. Quá trình tự do hóa trong thời kỳ đầu của Trung Quốc đã giúp quốc gia này hội nhập sâu vào các chuỗi cung toàn cầu, và Bắc Kinh không thể trì hoãn hay tụt hậu trong nỗ lực cải cách, một khi nó vẫn muốn tiếp tục gia tăng sự thịnh vượng của Trung Quốc.
Nhưng cho đến khi tìm được một con đường để thoát khỏi ngõ cụt, Trung Quốc vẫn sẽ rất hạn chế về năng lực lãnh đạo toàn cầu. Để tìm thấy con đường đó, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc - những người ngày càng tỏ ra quyết đoán trên trường quốc tế, cần phải khiêm tốn hơn, nhằm đáp ứng được kỳ vọng của các nhà lãnh đạo toàn cầu khác về vai trò lãnh đạo lớn hơn của Trung Quốc trên các diễn đàn quốc tế như IMF, WTO và Khối G-20.

Tin được đăng bởi: Le Nhi on 2/22/2011 07:23:00 AM. Tin tức thuộc chuyên mục: , . BantinForex.net là kênh thông tin, tin tức, tư vấn, cung cấp kiến thức về thị trường Forex - Vàng. BantinForex.net là đối tác của sàn giao dịch Forex.com – Gain Capital Group làm việc tại Việt Nam. Chúng tôi có nhiệm vụ tư vấn và hỗ trợ khách hàng đăng ký tài khoản Forex.com - Gain Capital Group và cung cấp chiến lược giao dịch,công cụ đầu tư hiệu quả.
Liên hệ

Send Email

84947409 918

Hỗ trợ tài khoản

Hỗ trợ môi giới IB

Chiến thuật giao dịch

Kiến thức cơ bản

Mô hình Nến Nhật

Lên đầu trang