|

Phân tích kỹ thuật trong lĩnh vực Trading


(BantinForex)-Phân tích kỹ thuật là phương pháp định giá cổ phiếu bằng cách phân tích các số liệu do biến động thị trường như giá và khối lượng giao dịch của quá khứ. Các nhà phân tích kỹ thuật không nỗ lực để đo giá trị bản chất của cổ phiếu, nhưng thay vì sử dụng biểu đồ và các công cụ khác để xác định các mô hình mà có thể dự đoán các hoạt động trong tương lai.
Cũng như các hình thức đa dạng của phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật cũng có nhiều hình thức. Một số dựa trên mô hình biểu đồ; một số khác sử dụng các chỉ dẫn kinh tế và các dao động, và hầu hết sử dụng phối hợp cả hai. Trong bất kỳ trường hợp nào, các nhà phân tích kỹ thuật chỉ dùng giá của quá khứ và số liệu khối lượng giao dịch xuất phát từ các phân tích cơ bản. Không giống như các nhà phân tích cơ bản, các nhà phân tích kỹ thuật không chú ý đến việc liệu cổ phiếu đó bị đánh giá thấp hơn giá trị-điều quan trọng duy nhất là số liệu giao dịch của cổ phiếu trong quá khứ và các thông tin mà các số liệu này có thể cung cấp về việc liệu các cổ phiếu có biến động trong tương lai hay không
Phạm vi của phân tích kỹ thuật dựa trên ba giả định:
  1. Biến động thị trường phản ánh tất cả
    Quan điểm chính về phân tích kỹ thuật là nó chỉ xét đến các biến động giá, không kể đến các yếu tố thuộc về phân tích cơ bản của  công ty. Tuy nhiên, các phân tích kỹ thuật giả định rằng, vào bất kỳ thời điểm nào, giá cổ phiếu phản ánh chính bản thân nó hoặc có thể phản ánh chính công ty đó- bao gồm các nhân tố phân tích cơ bản. Các nhà phân tích kỹ thuật tin rằng các phân tích cơ bản của công ty, cùng với các nhân tố kinh tế và tâm lý thị trường, đã được chuyển thành giá của cổ phiếu, loại bỏ nhu cầu để xem xét riêng rẽ các yếu tố.  Nó chỉ bỏ qua sự phân tích biến động giá, các lý thuyết kỹ thuật xem đây là sản phẩm của cung và cầu của một loại chứng khoán trên thị trường.
  2. Biến động giá theo Xu hướng
    Trong phân tích kỹ thuật, giá biến động được cho là theo các xu hướng. Điều này có nghĩa là sau một xu hướng được thiết lập, biến động giá trong tương lai thường theo một xu hướng hơn là ngược xu hướng đó. Hầu hết các chiến lược giao dịch dựa trên giả định này.
  3. Lịch sử thường lặp lại chính nó
    Một ý tưởng quan trọng trong phân tích kỹ thuật là  các biến động giá thường lặp lại chính nó. Bản chất lặp đi lặp lại của biến động giá thường được quy cho là do tâm lý thị trường; nói cách khác, những người tham gia thị trường có xu hướng phản ứng thống nhất đối với các tác nhân thị trường theo thời gian. Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình biểu đồ để phân tích thị trường và am hiểu các xu hướng. Mặc dù rất nhiều biểu đồ này được sử dụng trong hơn 100 năm, nó vẫn được tin tường sử dụng bởi nó thường lặp lại chính nó.
Phân tích kỹ thuật có thể sử dụng với bất kỳ loại chứng khoán nào với các thông số lịch sử giao dịch. Nó bao gồm cổ phiếu, hàng hóa tương lai hàng hóa, cổ phiếu thu nhập cố định, ngoại hối, v.v… Trong bài này, chúng tôi sẽ phân tích các cổ phiếu trong các ví dụ minh họa, nhưng hãy nhớ là những khái niệm này có thể được sử dụng với bất kỳ loại cổ phiếu nào. Trên thực tế, phân tích kỹ thuật thường gắn liền với hàng hóa và ngoại hối, nơi những người tham gia là những người giao dịch.
Bây giờ bạn đã hiểu về tâm lý đằng sau các phân tích kỹ thuật, chúng tôi sẽ lý giải cách thức họat động thực sự của nó. Một trong những cách tốt nhất để hiểu những điểm mà phân tích kỹ thuật so sánh với phân tích cơ bản. Chúng ta sẽ tiếp tục ở phần tiếp theo.
Phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản là hai lý thuyết chính trong thị trường tài chính. Như chúng tôi đã đề cập, phân tích kỹ thuật xem xét biến động giá của thị trường chứng khoán và sử dụng các số liệu để dự đoán biến động giá trong tương lai. Mặt khác, phân tích cơ bản thường xem xét các nhân tố của nền kinh tế. Đi vào chi tiết sự khác biệt giữa hai phương pháp này, các quan điểm chống lại phân tích kỹ thuật và làm thế nào để phối hợp cả phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản để phân tích thị trường chứng khoán.
Sự khác biệt
Biểu đồ và các Nhận định Tài chính
Ở cấp độ cơ bản nhất, nhà phân tích kỹ thuật tiếp cận thị trường chứng khoán từ các biểu đồ, trong khi các nhà phân tích cơ bản bắt đầu bằng các nhận định tài chính (Để đọc thêm, tham khảo Giới thiệu Phân tích Cơ bàn và Phân tích các nhận định tài chính)
Bằng cách xem xét các bảng cân đối tài chính, các nhận định về dòng luân chuyển tiền mặt và các báo cáo thu nhập, nhà phân tích tìm cách để xác định giá trị của một công ty. Về mặt tài chính, nhà phân tích lại nỗ lực để đo lường giá trị thực chất của một công ty. Trong phương pháp này, khá dễ dàng để đưa ra các quyết định đầu tư-nếu giá của giao dịch chứng khoán thấp hơn giá trị gốc, đó là một khoản đầu tư tốt. Mặc dù đây là sự đơn giản hoá (phân tích cơ bản không chỉ có các nhận định tài chính, nhưng nguyên lý cơ bản này là đúng.
Mặt khác, các nhà phân tích kỹ thuật tin rằng không có lý do nào để phân tích các thông tin cơ bản của một công ty bởi vì tất cả đã được thể hiện trong giá cổ phiếu. Các nhà phân tích kỹ thuật tin rằng tất cả các thông tin họ cần về chứng khoán có thể tìm thấy ở các biểu đồ.
Khung Thời gian
Các nhà phân tích cơ bản sử dụng phương pháp tương đối dài hạn để phân tích thị trường so sánh với phân tích kỹ thuật. Trong khi các nhà phân tích kỹ thuật có thể sử dụng khung thời gian theo tuần, theo ngày hoặc thậm chí theo phút,  phân tích cơ bản thường xem xét dữ liệu trong một số năm
Các khung thời gian khác nhau mà hai phương pháp này sử dụng là kết quả của bản chất hình thức đầu tư mà mỗi loại gắn liền với. Có thể mất một thời gian dài để giá trị của một công ty có thể được phản ánh trên thị trường, do đó khi một nhà phân tích cơ bản định giá được giá trị thực chất, lợi ích vẫn chưa được xác nhận cho đến khi giá của thị trường chứng khoán đã tăng để điều chỉnh giá trị. Loại đầu tư này gọi là đầu tư giá trị và giả định rằng thị trường ngắn hạn là sai nhưng giá của một lọai chứng khoán có thể điều chỉnh chính nó trong một thời gian dài. Trong một số trường hợp Thời gian dài này có thể được thể hiện một khung thời gian là vài năm. (Để hiểu rõ hơn, đọc Warren Buffet: Ông ta đã làm thế nào và Thế nào là Hình thức đầu tư của Warren Buffet)?
Hơn thế nữa, con số mà những nhà phân tích cơ bản phân tích chỉ được công bố trong một khoảng thời gian dài. Các báo cáo tài chính thường được đưa ra hàng quý và thay đổi lợi nhuận trên một cổ phiếu không xuất hiện dựa trên thông tin về giá và khối lượng giao dịch hàng ngày. Cũng nên nhớ rằng các nhà phân tích cơ bản là những đặc điểm thực tế của kinh doanh. Một cách quản lý mới không thể triển khai những thay đổi sâu rộng chỉ qua một đêm và mất nhiều thời gian để tạo ra sản phẩm mới, chiến lược marketing, chuỗi cung ứng, v.v…Do đó, lý do mà các nhà phân tích cơ bản sử dụng khung thời gian dài hạn là vì các thông tin được sử dụng để phân tích chậm hơn giá và khối lượng giao dịch do nhà phân tích kỹ thuật sử dụng.
Giao dịch và Đầu tư
Không chỉ phân tích kỹ thuật ngắn hạn hơn về bản chất mà phân tích cơ bản, mà còn bởi các mục tiêu của việc mua (hoặc bán) một cổ phiếu thường khác biệt với mỗi phương pháp. Nhìn chung, phân tích kỹ thuật sử dụng cho giao dịch (trade) trong khi phân tích cơ bản sử dụng cho đầu tư (investment). Nhà đầu tư mua tài sản mà họ tin là sẽ tăng giá trị, trong khi nhà giao dịch mua tài sản mà họ tin là họ có thể bán được cho người khác với một giá tốt hơn. Sự khác biệt giữa giao dịch và đầu tư có thể không rõ ràng, nhưng nó đã phác họa được sự khác biệt giữa hai lý thuyết.
Bình luận
Một số quan điểm cho rằng phân tích kỹ thuật là một dạng ảo thuật. Đừng ngạc nhiên khi họ đặt câu hỏi về tính hiệu lực của các quy định mà họ dùng để che mắt những người ủng hộ. Trên thực tế, phân tích kỹ thuật chỉ mới bắt đầu được tin tưởng trong thời gian gần đây. Trong khi hầu hết các nhà phân tích ở Phố Wall tập trung vào phân tích cơ bản, trong khi các công ty môi giới hiện tại cũng áp dụng các phân tích kỹ thuật.
Hầu hết các quan điểm về phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ lý thuyết sách vở-cụ thể là Thuyết thị trường hiệu quả (EMH). Lý thuyết này cho rằng giá thị trường luôn đúng-bất kỳ giao dịch trong quá khứ nào cũng phản ánh giá của chứng khoán và do đó bất kỳ phân tích nào để tìm cổ phiếu dưới giá trị là vô ích.
Có 3 phiên bản của Thuyết thị trường hiệu quả. Phiên bản đầu tiên, gọi là Hình thức hiệu quả kém, tất cả thông tin giá quá khứ đã bao gồm giá hiện tại. Theo Hình thức hiệu quả kém, phân tích kỹ thuật không thể dự đoán được biến động giá tương lai bởi tất các thông tin quá khứ đã được tính đến và do đó, phân tích biến động giá của cổ phiếu quá khứ sẽ không tạo ra dự đoán nào cho biến động tương lai. Phiên bản thứ hai, Hình thức hiệu quả mạnh một nửa, các phân tích cơ bản cũng được cho là ít hữu ích để tìm kiếm cơ hội đầu tư. Phiên bản thứ ba là Hình thức hiệu quả mạnh, cho rằng tất cả các thông tin trên thị trường tạo ra giá của cổ phiếu và phân tích kỹ thuật lẫn phân tích cơ bản đều không cung cấp cho nhà đầu tư một lợi thế nào cả. Đa số các lý thuyết đều tin tường ít nhất phiên bản yếu của Thuyết thị trường hiệu quả, do đó nếu phân tích kỹ thuật được sử dụng, thuyết thị trường hiệu quả sẽ được quan tâm.
Không có một câu trả lời thỏa đáng ai là người đúng. Có những lập luận được đưa ra cho cả hai loại, do đó bạn có quyền để tự nghiên cứu ở nhà và quyết định cho riêng mình một lý thuyết.
Có thể cùng tồn tại? (Hai hình thức phân tích)
Mặc dù các phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản được cho là chỉ dùng riêng rẽ đối ngược- ví như dầu và nước trong lĩnh vực đầu tư- nhiều người tham gia thị trường được trải nghiệm những thành công lớn lao bằng cách kết hợp cả hai. Chẳng hạn, một số nhà phân tích cơ bản sử dụng phương pháp phân tích kỹ thuật để xác định thời điểm tốt nhất để tham gia vào chứng khoán định giá thấp. Đôi khi, tình huống này xuất hiện khi chứng khoán bị bán thấu mức nghiêm trọng. Bằng cách xác định thời điểm vào thị trường chứng khoán, lợi nhuận đầu tư được cải thiện đáng kể.
Thay vào đó, một số nhà giao dịch kỹ thuật có thể xem xét phân tích cơ bản để tăng sức mạnh cho các dấu hiệu kỹ thuật. Ví dụ, nếu có tín hiệu bán của mô hình kỹ thuật và các chỉ dẫn, một nhà giao dịch kỹ thuật có thể xác nhận lại quyết định của mình bằng cách xem xét các dữ liệu cơ bản chính yếu. Đôi khi, sử dụng các hai phương pháp có thể tạo ra các kịch bản tốt nhất cho các giao dịch.
Trong khi phối hợp các thành tố của phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản không được các nhóm đại diện cho mỗi loại ủng hộ, ít nhất việc hiểu cả hai loại phân tích này đều chắc chắn có lợi.
Một trong những khái niệm quan trong nhất của phân tích cơ bản là xu hướng. Ý nghĩa trong tài chính cũng không hoàn toàn khác biệt với định nghĩa thông thường của thuật ngữ này-một xu hướng chính định hướng chung mà chứng khoán hoặc thị trường hướng đến. Tham khảo biểu đồ dưới đây:
Biểu đồ 1
Không dễ dàng để nhận ra xu hướng ở Biểu đồ 1 là đang tăng. Tuy nhiên, không luôn luôn dễ dàng để nhận ra xu hướng:
Biểu đồ 2
Có rất nhiều xu hướng lên và xuống trong biểu đồ này, nhưng không có dấu hiệu rõ ràng cổ phiếu đang hướng theo chiều nào.
Một định nghĩa chính thống
Không dễ dàng để nhìn xu hướng. Nói cách khác, xác định một xu hướng đằng sau những điểm cụ thể. Trong một biểu đồ xác định, bạn có lẽ sẽ chú ý rằng giá không có xu hướng tăng theo một đường thẳng theo một chiều mà là một chuỗi các điểm cao và thấp. Trong phân tích kỹ thuật, sự biến động của các điểm cao và thấp tạo ra một xu hướng. Chẳng hạn, một xu hướng đi lên được phân loại gồm một loạt các điểm cao cao hơn và điểm thấp cao hơn, trong khi xu hướng xuống là điểm thấp thấp hơn và điểm cao thấp hơn.
Biểu đồ 3 minh họa xu hướng đi lên. Điểm 2 trong biểu đồ là điểm cao đầu tiên, được xác định sau khi giá giảm từ điểm này. Điểm 3 là điểm thấp được xác lập khi giá đi xuống từ điểm cao. Để giữ xu hướng đi lên, các điểm thấp tiếp theo phải là điểm thấp hơn điểm thấp nhất trước đó hoặc đường xu hướng dường như đảo ngược
Biểu đồ 3
Loại xu hướng
Có 3 loại xu hướng:
  1. Xu hướng đi lên
  2. Xu hướng đi xuống
Xu hướng sideways/ Xu hướng đi ngang. Như tên gọi, khi mỗi điểm đỉnh và điểm đáy cao hơn, nó được gọi là xu hướng đi lên. Nếu điểm đỉnh và điểm đáy thấp hơn, đó là xu hướng đi xuống. Khi có một sự biến động nhỏ lên hoặc xuống của các điểm đỉnh và đáy, đó là xu hướng sideway hoặc xu hướng đi ngang. Nếu thực sự nắm vững kỹ thuật, bạn có thể nói rằng bản thân xu hướng sideway thực sự không phải là một xu hướng cụ thể, vì nó thiếu một sự xác định rõ ràng một chiều nhất định. Trong bất kỳ trường hợp nào, thị trường có thể trong 3 xu hướng: lên, xuống hoặc không theo chiều nào
Độ dài xu hướng
Cùng với ba xu hướng này, có ba cách phân loại xu hướng. Có thể là xu hướng dài hạn, trung hạn hoặc ngắn hạn. Đối với thị trường chứng khoán, một xu hướng dài hạn thường kéo dài lâu hơn 1 năm. Một xu hướng trung hạn trong khoảng từ 1-3 tháng và một xu hướng ngắn hạn kéo dài ít hơn 1 tháng. Một xu hướng dài hạn thường gồm các xu hướng trung hạn, thường đi ngược xu hướng của xu hướng dài hạn. Nếu xu hướng dài hạn đi lên và có sự đảo ngược của biến động giá và tiếp theo là các xu hướng đi lên, đường đảo ngược có thể xem là xu hướng trung hạn. Xu hướng ngắn hạn là thành tố của xu hướng dài hạn và trung hạn. Tham khảo Biểu đồ 4 để có cảm nhận về độ dài của ba xu hướng này.
Khi phân tích các xu hướng, điều quan trọng là biểu đồ phải được xây dựng sao cho phản ánh được loại xu hướng đang được phân tích. Để xác định xu hướng dài hạn, các biểu đồ theo tuần và hàng ngày mở rộng trong khoảng thời gian 5 năm được các nhà phân tích biểu đồ sử dụng để hiểu các xu hướng dài hạn. Biểu đồ số liệu hàng ngày được sử dụng nhiều nhất khi phân tích các xu hướng dài hạn và ngắn hạn. Lưu ý là, xu hướng càng lâu dài thì càng trở nên quan trọng; chẳng hạn, xu hướng 1 tháng thì không quan trọng như xu hướng 5-năm.


Biểu đồ 4
Các đường xu hướng
Đường xu hướng là một kỹ thuật biểu đồ đơn giản, thêm các đường kẻ vào trong biểu đồ để biểu thị xu hướng trong thị trường hoặc của chứng khoán. Để vẽ đường xu hướng chỉ cần vẽ một đường thẳng đi theo một xu hướng chung. Các đường này được sử dụng để biểu thị xu hướng và được sử dụng để xác định các xu hướng ngược.
Như bạn có thể thấy ở Biểu đồ 5, một đường xu hướng đi lên được vẽ theo các điểm thấp của một xu hướng đi lên. Đường này biểu thị luôn có một ngưỡng hỗ trợ cho các chứng khoán mỗi khi nó biến động từ một điểm thấp lên điểm cao. Lưu ý cách thức nó hỗ trợ giá như thế nào. Loại đường xu hướng này giúp nhà giao dịch có thể chờ đợi điểm mà giá cổ phiếu bắt đầu đi lên trở lại. Tương tự, một đường xu hướng đi xuống được vẽ bằng cách nối các điểm cao của xu hướng đi xuống. Đường xu hướng này biểu thị mức kháng cự đối với các biến động của giá đi từ điểm thấp lên điểm cao.
Biểu đồ 5
Kênh
Một kênh xu hướng, hay đường xu hướng, là sự bổ sung của hai đường xu hướng song song như là khu vực hỗ trợ hay kháng cự. Đường xu hướng phía trên nối các điểm cao, trong khi đường xu hướng thấp hơn nối một chuỗi các điểm thấp. Một kênh có thể có độ dốc lên, hoặc xuống hoặc sideways, nhưng không kể các chiều hướng, sự giải thích vẫn như nhau. Các nhà giao dịch chờ đợi một sự an toàn để giao dịch giữa hai mức hỗ trợ và kháng cự cho đến khi nó phá vỡ một trong các mức, mà ở đó nhà giao dịch có thể kỳ vọng một sự biến động rõ rệt theo chiếu của sự phá vỡ. Cùng với việc thể hiện một cách rõ ràng đường xu hướng, các kênh thường được sử dụng để minh họa khu vực hỗ trợ và kháng cự.
Biểu đồ 6 minh họa kênh đi xuống của biểu đồ chứng khoán; đường xu hướng phía trên được xác định bằng các điểm cao và đường xu hướng phía dưới được xác định dựa trên các điểm thấp. Giá tăng trở lại phía trên các đường này một số lần, và  thị trường vẫn dao động trong vài tháng. Miễn là giá không giảm xuống dưới đường phía dưới hoặc di chuyển vượt lên ngưỡng kháng cự phía trên, xu hướng thị trường dao động đi xuống vẫn tiếp diễn.
Biểu đồ 6
Sự quan trọng của Xu hướng
Việc hiểu và xác định xu hướng là quan trọng sao cho bạn có thể giao dịch theo chiều hướng thị trường chứ không phải đi ngược lại. Có hai câu nói quan trọng trong phân tích kỹ thuật là “xu hướng là bạn” và ”đi ngược xu hướng”, “minh họa tầm quan trọng của phân tích xu hướng đối với những người giao dịch kỹ thuật”
Một khi bạn hiểu được khái niệm xu hướng, một quan điểm quan trọng tiếp theo là hỗ trợ và kháng cự. Bạn thường nghe các nhà phân tích kỹ thuật nói về các cuộc chiến đang diễn ra giữa xu hướng đi lên và xu hướng đi xuống, hoặc giữa cung và cầu. Điều này có thể thấy là giá của cổ phiếu thường biến động vượt lên (kháng cự) hoặc nằm dưới (hỗ trợ)
Bạn có thể thấy ở Biểu đồ 1, hỗ trợ nghĩa là mức giá mà từ đó chứng khoán hay thị trường ít khi giảm (minh họa bằng mũi tên xanh). Kháng cự, mặt khác, là mức giá mà ở đó chứng khoán hay thị trường hiếm khi vượt qua (minh họa bằng mũi tên đỏ)
Biểu đồ 1
Tại sao việc đó xảy ra?
Các mức hỗ trợ và kháng cự thường được xem là quan trọng đối với tâm lý thị trường và cung và cầu. Mức hỗ trợ và kháng cự là mức mà ở đó nhiều nhà giao dịch sẵn sàng mua chứng khoán (trong trường hợp hỗ trợ) hoặc bán nó (trong trường hợp kháng cự). Khi các đường xu hướng bị phá vỡ, cung và cầu và tâm lý đằng sau biến động cổ phiếu được cho là đã thay đổi, trong trường hợp mà mức hỗ trợ và kháng cự mới được thiết lập.
Số làm tròn và Hỗ trợ và Kháng cự
Một dạng hỗ trợ và kháng cự được sử dụng ở phạm vi toàn cầu có xu hướng được xem xét thông qua một số lượng lớn các cổ phiếu là số làm tròn. Các số làm tròn như 10, 20, 35, 50, 100 và 1000 có xu hướng quan trọng như hỗ trợ và kháng cự bởi vì chúng biểu thị các bước ngoặt tâm lý chính mà ở đó nhà giao dịch sẽ có quyết định mua hoặc bán
Người bán sẽ mua một lượng lớn cổ phiếu chứng khoán một khi giá bắt đầu giảm xuống số tròn như 50 USD, làm cho cổ phiếu giảm dưới mức. Mặt khác, người bán bắt đầu bán các cổ phiếu dao động quanh  mốc đỉnh, làm cho việc biến động qua mức trên trở nên khó khăn. Áp lực mua và bán ở các mức này khiến chúng trở thành điểm hỗ trợ và kháng cự, và trong nhiều trường hợp là điểm tâm lý.
Đảo lộn vai trò
Một khi mức kháng cự hoặc hỗ trợ bị phá vỡ, vai trò sẽ bị đảo ngược. Nếu giá giảm xuống dưới mức hỗ trợ, mức đó sẽ trở thành kháng cự. Nếu giá tăng vượt lên trên mức kháng cự, nó sẽ trở thành hỗ trợ. Khi giá biến động qua mức hỗ trợ hoặc kháng cự, người ta cho rằng cung và cầu đã thay đổi, tạo ra mức phá vỡ để đảo ngược vai trò. Để sự đảo ngược này thực sự xuất hiện, giá cần phải có một biến động vượt qua hỗ trợ hoặc kháng cự.
Chẳng hạn, bạn có thể tham khảo Biểu đồ 2, các đường chấm được xem là mức kháng cự ngăn cản giá tăng lên trên hai phiên trước đó (Điểm 1 và 2).


Biểu đồ 2
Nhiều nhà giao dịch bắt đầu sử dụng phân tích kỹ thuật thấy khái niệm này rất khó tin và không nhận ra rằng hiện tượng này xuất hiện khá thường xuyên, thậm chí với các công ty nổi tiếng. Ví dụ như, bạn tham khảo ở Biểu đồ 3, hiện tượng này rất rõ ràng trên biểu đồ Wal-Mart Stores Inc (WMT) khoảng 2003-2006. Lưu ý vai trò của sự thay đổi 51 USD thay đổi từ mức hỗ trợ mạnh đến mức kháng cự.
Trong hầu hết trường hợp, cổ phiếu thường có mức hỗ trợ và kháng cự và sẽ giao dịch trong khoảng này và tăng giảm giữa các mức này. Có thể thường xuyên nhận thấy điều này khi một cổ phiếu đang giao dịch theo đường sideways khi giá biến động thông qua các điểm đỉnh và đáy tiếp theo, thử mức kháng cự và hỗ trợ.
Biểu đồ 3
Vai trò của Hỗ trợ và Kháng cự
Phân tích Hỗ trợ và Kháng cự là phần quan trọng của các xu hướng bởi vì nó có thể được sử dụng để tạo ra các quyết định giao dịch và xác định khi nào thì xu hướng đảo ngược. Chẳng hạn, nếu một người giao dịch xác định mức hỗ trợ quan trọng cần được kiểm tra một vài lần nhưng không bao giờ bị phá vỡ, người đó có thể quyết định thu lợi nhuận khi cổ phiếu biến động đến điểm đó bởi vì hầu như không có khả năng là nó sẽ vượt qua mức này.
Mức hỗ trợ và kháng cự đều thử nghiệm và xác nhận các xu hướng và các nhà phân tích kỹ thuật cần được theo dõi bởi những người sử dụng phân tích kỹ thuật. Miễn là giá của các cổ phiếu vẫn ở giữa mức hỗ trợ và kháng cự, xu hướng đó sẽ tiếp tục. Cần lưu ý, một điểm phá vỡ vượt lên trên mức hỗ trợ hoặc kháng cự không luôn luôn đảo ngược. Chẳng hạn, nếu giá biến động trên mức kháng cự của một kênh xu hướng đi lên, xu hướng đó là xu hướng đang lên, không phải là xu hướng đảo ngược. Điều này có nghĩa là sự tăng giá nhanh hơn ở các kênh.
Nhận thức về các điểm hỗ trợ và kháng cự có thể ảnh hưởng đến cách giao dịch một cổ phiếu.  Nhà giao dịch nên tránh đặt các lệnh ở các điểm chính, khi khu vực xung quanh thường được đánh dấu bằng rất nhiều các biến động. Nếu bạn cảm thấy tự tin để giao dịch gần mức hỗ trợ hay kháng cự, bạn cần tuân theo một quy luật đơn giản: không đặt lệnh trực tiếp ở mức hỗ trợ hay kháng cự. Trong nhiều trường hợp, giá không bao giờ chạm tổng các số lượng, nhưng dao động xung quanh các điểm đó. Nếu bạn đang trong xu thế đi lên đối với một loại cổ phiếu nào đó đang di chuyển về mức hỗ trợ quan trọng, không nên đặt lệnh ở mức hỗ trợ. Thay vào đó, đặt trên mức hỗ trợ, trong một số điểm. Mặt khác, nếu bạn đặt lệnh dừng hay bán khống, thiết lập giá giao dịch ở ngay tạmức hỗ trợ hay phía dưới mức đó
Cho đến lúc này, chúng ta chỉ mới thảo luận về giá cổ phiếu. Trong khi giá là vấn đề quan tâm hàng đầu trong phân tích kỹ thuật, khối lượng giao dịch là yếu tố cực kỳ quan trọng.
Thế nào là khối lượng giao dịch?
Khối lượng giao dịch đơn giản là số lượng cổ phần hoặc hợp đồng giao dịch trong một khoảng thời gian cho trước. Khối lượng giao dịch càng lớn, cổ phiếu đó càng được giao dịch nhiều. Để xác định biến động của khối lượng giao dịch (lên hoặc xuống), các nhà phân tích biểu đồ xem xét các thanh khối lượng giao dịch có thể thấy ở đáy của biểu đồ. Thanh biểu thị khối lượng giao dịch biểu thị có bao nhiêu cổ phiếu đã được giao dịch trong mỗi giai đoạn và cũng tạo ra xu hướng như giá.
Tại sao khối lượng giao dịch là quan trọng
Khối lượng giao dịch là một thành phần quan trọng của phân tích kỹ thuật vì nó được sử dụng để xác nhận các xu hướng và mẫu biểu đồ. Bất kỳ biến động giá tăng hoặc giảm với khối lượng giao dịch tương đối cao được xem là mạnh hơn, liên quan đến các biến động tương tự với khối lượng giao dịch thấp. Do đó, nếu bạn theo dõi biến động giá lớn, bạn cũng nên nghiên cứu xem khối lượng có tạo ra cùng một xu hướng như vậy không.
Chẳng hạn như nếu giá cổ phiếu tăng 5% trong một ngày giao dịch sau một thời gian dài xu hướng đi xuống. Liệu rằng đây là dấu hiệu đảo ngược xu hướng? Đây là lúc mà khối lượng hỗ trợ người giao dịch. Nếu khối lượng cao trong ngày liên quan đến khối lượng giao dịch hàng ngày, đó chính là khi dấu hiệu đảo ngược có thể trở thành sự thực. Mặt khác, nếu khối lượng thấp hơn trung bình, sẽ không có đủ cơ sở cho một sự đảo ngược xu hướng trên thực tế.
Khối lượng nên đi cùng xu hướng. Nếu giá biến động theo xu hướng đi lên, khối lượng cũng tăng (và ngược lại). Nếu mối quan hệ trước đó giữa khối lượng và biến động giá trở nên xấu đi, đó thường là dấu hiệu của xu hướng. Chẳng hạn, nếu cổ phiếu ở xu hướng đi lên nhưng ngày giao dịch đó có khối lượng giao dịch thấp hơn, đó là dấu hiệu cho thấy xu hướng sẽ sớm kết thúc.
Khi khối lượng đưa ra một tín hiệu khác, đó là trường hợp của sự phân kỳ, tạo ra sự đối nghịch giữa hai chỉ dẫn khác nhau. Minh họa đơn giản nhất của sự phân kỳ là xu hướng đi lên trong khi khối lượng lại giảm xuống.
Khối lượng và Mẫu Biểu đồ
Khối lượng còn được sử dụng để xác nhận mô hình biểu đồ. Mô hình biểu đồ như đầu và vai, tam giác, cờ và các mô hình giá khác có thể được xác nhận bằng khối lượng, một quá trình mà chúng tôi sẽ mô tả chi tiết sau. Trong hầu hết các mô hình biểu đồ, có vài loại điểm pivot rất cần thiết để biểu đồ có thể báo hiệu một điều gì đó  cho những nhà phân tích. Về cơ bản, nếu khối lượng không thể xác nhận thời điểm của các điểm pivot trong một biểu đồ, các tín hiệu mà biểu đồ đó mang lại sẽ yếu đi.
Khối lượng vượt lên Giá
Một ý tưởng quan trọng trong phân tích kỹ thuật là giá vượt lên trên khối lượng. Khối lượng được các nhà kỹ thuật và biểu đồ theo dõi sát để hình thành nên các ý tưởng cho các xu hướng đảo ngược sắp đến. Nếu khối lượng giảm trong một xu hướng đi lên, thường là đường xu hướng lên sắp kết thúc.
 

Tin được đăng bởi: Le Nhi on 1/21/2011 02:03:00 PM. Tin tức thuộc chuyên mục: . BantinForex.net là kênh thông tin, tin tức, tư vấn, cung cấp kiến thức về thị trường Forex - Vàng. BantinForex.net là đối tác của sàn giao dịch Forex.com – Gain Capital Group làm việc tại Việt Nam. Chúng tôi có nhiệm vụ tư vấn và hỗ trợ khách hàng đăng ký tài khoản Forex.com - Gain Capital Group và cung cấp chiến lược giao dịch,công cụ đầu tư hiệu quả.
Liên hệ

Send Email

84947409 918

Hỗ trợ tài khoản

Hỗ trợ môi giới IB

Chiến thuật giao dịch

Kiến thức cơ bản

Mô hình Nến Nhật

Lên đầu trang